Bệnh Tôm

Bệnh EMS

Hiểu sâu hơn về Bệnh EMS/AHBMS trên tôm

Theo Tiến sĩ Donald Lightner và cộng sự tại Đại học Arizona đã phát hiện được tác nhân gây bệnh chết sớm (EMS) hay còn gọi là hội chứng hoại tử cấp tính AHPNS trên tôm là do một dòng đặc biệt của vi khuẩn Vibrio par-ahaemolyticus đã nhiễm bởi một loại virus được biết đến như một thể thực khuẩn (phage), virus này xâm nhiễm đã làm vi khuẩn sản xuất ra 01 loại độc tố cực mạnh gây rối loạn chức năng cơ quan tiêu hóa đặc biệt là hệ gan tụy của tôm, kết quả gan tụy sẽ bị hoại tử. Bệnh AHPNS thường xuất hiện trong vòng 45 ngày đầu sau khi thả tôm đối với tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Tỷ lệ tôm chết có thể lên đến 100% trong vài ngày sau khi bệnh xuất hiện.

Xem chi tiết

Các bệnh thường găp nơi Tôm thẻ chân trắng

Các bệnh thường gặp ở tôm chân trắng - nguyên nhân và cách phòng, trị (29/06/2014)

 

 

Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ 21, trong đó Quảng Ngãi là một trong những địa phương có nghề nuôi tôm chân trắng sớm nhất và hiện là tỉnh có diện tích, năng suất, sản lượng và kỹ thuật nuôi cao nhất trong cả nước.

Từ một vài ha nuôi tôm chân trắng ở năm 2003, đến nay diện tích nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã đạt đến gần 600 ha. Năng suất nuôi bình quân đạt khoảng 7tấn/ha/vụ, cá biệt ở vùng nuôi tôm trên cát năng suất đạt trên 18tấn/ha/vụ, sản lượng tôm chân trắng nuôi năm 2008 trên toàn tỉnh đạt 5.440 tấn

Tôm chân trắng là đối tượng tương đối dễ nuôi, điểm đặc biệt lưu ý khi nuôi đối tượng này là phải kiểm soát tốt môi trường ao nuôi. Trung bình mỗi ha diện tích nuôi tôm chân trắng thành công có lãi từ 150 triệu – 200 triệu trên một vụ nuôi. Mỗi năm người dân nuôi từ 2 đến 3 vụ, như vậy nếu thành công hàng năm có thể lãi từ 300 triệu – 500 triệu trên mỗi ha diện tích. Tính trên toàn tỉnh lãi thu được từ nuôi tôm chân trắng của năm 2008 ước đạt trên 40 tỉ đồng, kết quả này đã góp phần đáng kể vào việc cải thiện đời sống của một bộ phận người dân trong tỉnh, đặc biệt có một số ít hộ dân đã vươn lên làm giàu từ nghề nuôi tôm chân trắng.

Tuy nhiên cũng như bao sinh vật sống khác, bệnh xảy ra ở tôm chân trắng trong quá trình nuôi là điều khó tránh khỏi. Những năm qua, ở Quảng Ngãi hàng năm có từ 30ha – 50ha (chiếm khoảng 10%) diện tích nuôi tôm chân trắng bị bệnh với các loại bệnh khác nhau. Có nhiều nguyên nhân và cách phòng trị bệnh cho tôm chân trắng. Để việc nuôi có kết quả tốt hơn, người nuôi cần nắm bắt được các bệnh thường gặp ở tôm chân trắng, nguyên nhân và cách phòng trị bệnh sau đây:

 

1. Các bệnh do virus gây ra: thường gặp nhất là: bệnh Taura (TSV), bệnh đốm trắng (WSBV), hội chứng dị hình còi cọc (IHHNV), bệnh đục cơ (IMNV) với các biểu hiện bệnh như sau:

1.1 Hội chứng Taura ở tôm he chân trắng - TSV (Taura syndrrome inPenaeus vannamei)

 Bệnh TSV do virus thuộc giống Piconavirus gây ra, bệnh thường xảy ra ở giai đoạn ấu niên từ 14 - 40 ngày tuổi, có thể gây chết từ 40-90% đàn tôm. Khi bị bệnh cơ thể tômchuyển màu đỏ nhợt, đặc biệt là đuôi và các chân bơi, sau đó các bộ phận này dày mọng lên và có thể dẫn hoại tử cục bộ. Ngoài ra còn có một số dấu hiệu khác như: mềm vỏ, ruột rỗng và thường chết khi lột xác.
 

1.2. Bệnh virus đốm trắng: (White spot Baculovirus- WSBV)

Bệnh đốm trắng trên tôm he do virus thuộc giống Baculovirus gây nên, bệnh thường xảy ra từ tháng thứ 1- 2 trong ao nuôi thương phẩm. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh này là cơ thể tôm xuất hiện các đốm trắng tròn dưới lớp vở kitin, tập trung chủ yếu ở giáp đầu ngực và đốt bụng cuối cùng. Tôm bệnh có thể bị chuyển sang màu hồng đỏ, khả năng tiêu thụ thức ăn giảm sút rõ ràng, bơi lờ đờ trên mặt nước và tấp vào bờ. Hiện tượng tôm chết xảy ra ngay sau các biểu hiện đó, tỷ lệ chết cao, có thể từ 90-100% trong vòng 3-7 ngày.

Cũng có trường hợp, trên thân tôm cũng xuất hiện các đốm trắng, tôm chết rải rác kèm theo các dấu hiệu khác như cụt râu, mòn các chân bơi, bẩn hoặc đen mang, nhưng kỹ thuật PCR lại cho kết quả âm tính với WSBV. Trường hợp này được xác định tác nhân gây bệnh do vi khuẩn.

 

1.3.  Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu: (Infectious Hypodermal and Hematopoietic Necrosis - IHHN)

Gây bệnh IHHN là một virus có tên parvovirus. Tôm chân trắng bị bệnh này  thường ở dạng mãn tính và thể hiện một số đặc điểm như còi cọc, sự uốn cong hay dị dạng của chùy đầu, sự nhăn nhúm của râu, sự xù xì thô ráp và méo mó của vỏ kitin, tôm kém ăn, phân đàn cao.

 

1.4 Bệnh do virus gây hoại tử cơ (infectious myonecrosis virus - IMNV):

Tôm có biểu hiện là đục phần cơ đuôi lan ra toàn thân, hoạt động lờ đờ rồi chết, tỉ lệ tôm chết có thể lên đến 40-60% trong ao nhiễm.  

Triệu chứng giống như bệnh do IMNV cũng có thể thấy khi tôm gặp những yếu tố môi trường không thuận lợi như thiếu dưỡng khí, mật độ nuôi cao hoặc thay đổi đột ngột của nhiệt độ và độ mặn.

 

* Nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa các bệnh do virus:

Các bệnh do virus nêu trên có thể lây nhiễm theo cả 2 trục ngang và dọc. Tôm mẹ bị nhiễm bệnh mà sống sót lây nhiễm trực tiếp từ mẹ sang đàn ấu trùng. Ngoài ra sự lây nhiễm từ con bệnh sang con khỏe, từ sinh vật mang mầm bệnh sang tôm nuôi cũng là một đặc trưng lây nhiễm của bệnh do virus.

 

Hiện nay chưa có biện pháp chữa trị đối với các bệnh do virus nên phòng bệnh là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong thực tế sản xuất. Các phương pháp phòng bệnh chủ yếu như sau:

- Chỉ dùng tôm mẹ không nhiễm virus để cho sinh sản nhân tạo. Chọn mua tôm giống đã qua kiểm dịch không nhiễm virus để nuôi thịt.

- Phòng tránh sự xâm nhập của virus vào ao bằng cách: làm tốt công tác tẩy dọn vệ sinh trước và sau một vụ nuôi để diệt virus tự do, các sinh vật mang virus (cua, còng, tôm hoang dã và các loài chim ăn cá), xử lý nước bằng các chất sát trùng trước khi cấp vào ao nuôi.

- Thả nuôi tôm đúng theo lịch thời vụ nhằm tránh mùa mà bệnh thường xuất hiện. Ở Quảng Ngãi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là khoảng thời gian dễ phát sinh các bệnh do virus.

 - Khi bệnh đã xảy ra, cần dùng thuốc sát trùng với nồng độ cao: chlorine >70ppm diệt virus và sinh vật mang virus trước khi thải ra môi trường để hạn chế sự lây lan trên diện rộng.

 

2. Các bệnh do vi khuẩn gây ra: thường gặp nhất ở tôm chân trắng là các bệnh đứt râu, phồng mang, đen mang và bệnh phân trắng.

Tác nhân chính gây ra các bệnh trên là vi khuẩn thuộc giống Vibrio, ngoài các biểu hiện bệnh như tên gọi của nó còn kèm theo một số dấu hiệu khác như: tôm bị bẩn mình, bẩn mang, cơ thể chuyển màu hồng đỏ, tôm yếu, bỏ ăn rồi chết. Hiện tượng chết có thể xảy ra khi bệnh ở mức độ cấp tính. Nếu mãn tính có thể gây chậm lớn, phân đàn, mềm vỏ...

Vi khuẩn Vibrioxâm nhập vào ao nuôi theo một số con đường: nguồn nước, tôm giống, thức ăn, đặc biệt là thức ăn tươi sống và từ đáy ao nếu công tác tẩy dọn chưa tốt.

 

Phương pháp phòng bệnh: việc phòng bệnh vi khuẩn ở tôm chân trắng cũng tương tự như phòng bệnh do virus, ngoài ra cần làm tốt một số nội dung sau:

- Nên áp dụng tổng hợp các biện pháp để kìm hãm sự phát triển của Vibrio như: định kỳ dùng chế phẩm vi sinh (Probiotic), giảm độ mặn nước ao nuôi xuống 15 – 20%o, quản lý tốt hệ phiêu sinh trong ao.

- Tránh lấy nước biển vào ao trong các ngày biến động do bão, gió mùa hay áp thấp nhiệt đới vì khi đó mật độ Vibrio trong nước biển ven bờ có thể tăng lên nhiều lần so với bình thường.

- Làm tăng hệ miễn dịch tự nhiên của tôm bằng quản lý môi trường tốt và bổ sung một số sản phẩm như vitamin C, A, E, và b Glucan.

 Phương pháp trị bệnh: nên áp dụng  đồng thời theo 2 hướng sau:

- Diệt vi khuẩn cảm nhiễm bên trong cơ thể bằng cách trộn kháng sinh vào thức ăn như: sulfamethoxine, bactrim, cotrim với liều lượng 15 – 20g/kg thức ăn, cho ăn liên tục trong 5 – 7 ngày.

- Giảm mật độ vi khuẩn trong nước và cải thiện điều kiện môi trường bằng một số biện pháp kỹ thuật như: xiphon đáy, thay nước mới, dùng một loại thuốc diệt khuẩn như: Benzalkonium chloride (BKC), Iodine, vôi...

3. Bệnh do các yếu tố vô sinh: bao gồm các loại bệnh sau:

- Bệnh do các yếu tố môi trường: như nhiệt độ, độ mặn, pH, khí độc...khi nằm ngoài ngưỡng thích ứng hoặc bị thay đổi đột ngột có thể gây hại hoặc gây chết đối với động vật thủy sản, thường gặp nhất là bệnh cong thân, bệnh đục cơ.

- Bệnh do yếu tố dinh dưỡng: các thành phần dinh dưỡng như: đạm, đường, chất béo, vitamin và khoáng khi thiếu hoặc thừa đều có thể gây bệnh cho tôm như: bệnh mềm vỏ.

Để phòng tránh các loại bệnh trên, trong quá trình nuôi cần điều chỉnh các yếu tố môi trường, dinh dưỡng trong giới hạn thích hợp và tránh việc thay đổi đột ngột các yếu tố này.

Khác với các sinh vật khác, vì tôm chân trắng sống trong môi trường nước, việc điều trị bệnh cho tôm rất khó khăn và tốn kém. Vì vậy cần nhận thức được rằng phòng bệnh tốt cho tôm chân trắng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình nuôi./.

 

ĐỖ THỊ THU ĐÔNG - Phòng Nuôi trồng thuỷ sản

 

 
Xem chi tiết

Hội chứng tôm chết sớm EMS

Hội chứng tôm chết sớm EMS | Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) | AHPND

 

Bệnh hoại tử gan tụy cấp tính AHPNS / AHPND (hội chứng tôm chết sớm EMS) xảy ra trên tôm sú (Penaeus monodon) và tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei

Tôm có thể bị nhiễm bệnh hoại tử gan tụy trong suốt quá trình nuôi, tập trung nhiều ở giai đoạn tôm nhỏ đến 45 ngày tuổi. Gây chết hàng loạt nhanh chóng.

Bệnh do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus tạo ra một độc tố mạnh làm phá hủy nhanh mô và làm rối loạn chức năng gan tụy trong hệ thống tiêu hóa của tôm. Đây là nguyên nhân làm tôm chết sớm trong vòng 30 ngày đầu tiên sau khi thả, tỷ lệ tôm chết có thể lên tới trên 70%.

Ban đầu, triệu chứng của bệnh không rõ ràng, tôm chậm lớn, lờ đờ, bỏ ăn, tấp mé và rớt đáy. Sau đó tôm bệnh bị mềm vỏ, màu sắc tôm thay đổi, gan tụy mềm nhũn, teo lại hoặc sưng to. 

Để phòng chống, cần áp dụng các biện pháp tổng hợp:

- Chọn tôm bố mẹ sạch bệnh để ngăn cản quá trình lây nhiễm bệnh từ tôm bố mẹ sang tôm con. 

- Đảm bảo tôm và môi trường, nguồn nước, dụng cụ, thiết bị trong trại giống phải sạch khuẩn.

- Sốc Formol 100 - 200ppm, trong 30 giây đến 1 phút, để chọn post khỏe, không nhiễm bệnh, loại bỏ bớt những con mang mầm bệnh, trước khi thả giống.

- Chuẩn bị và sát trùng ao cẩn thận trước khi thả nuôi: sên vét đáy ao, phơi nắng đáy ao (nếu có thể), sát trùng đáy ao. Xử lý diệt khuẩn nước vào thật cẩn thận.

- Không thả nuôi tôm mật độ quá cao. Có thể ghép nuôi cùng cá rô phi (nuôi nước xanh).

- Sử dụng thức ăn đảm bảo chất lượng, thức ăn không nhiễm nấm, cho ăn bổ sung vitamin C, A, E, và glucan.

- Quản lý môi trường ao nuôi tốt và ổn định bằng sản phẩm men vi sinh.

- Hạn chế dùng các hóa chất, kháng sinh. 

- Loại bỏ các chất gây độc cho gan tụy tôm như các ion kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật... có trong nước.

- Khi xảy ra bệnh, đối với tôm nhỏ, trước khi xả bỏ, phải dùng thuốc diệt khuẩn (chlorine, formol) để khử trùng, hạn chế lây nhiễm.

- Trong quá trình thu tôm, phải xử lý nước bằng thuốc diệt khuẩn (chlorine, formol) trước khi xả ra ngoài, hạn chế lây nhiễm.

Việt Linh © biên soạn

Xem chi tiết

    Bán hàng

  • Văn Phòng (0272) 3 882 878 - 0944 37 22 99
  • Kỹ thuật

  • Văn Phòng 0906 319 329 - 0944 37 22 99
  • Hotline:

    (0723) 885.716